Banner

Tổng hợp 8 nội dung lớn trong sản xuất và xuất khẩu thủy sản quý I/2012

Đăng lúc: Thứ năm - 05/09/2013 10:05 - Người đăng bài viết: admin
Tổng hợp 8 nội dung lớn trong sản xuất và xuất khẩu thủy sản quý I/2012

Tổng hợp 8 nội dung lớn trong sản xuất và xuất khẩu thủy sản quý I/2012

Quý I/2012, XK thủy sản của Việt Nam đạt 1,324 tỷ USD, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Mức tăng trưởng xét về mặt giá trị là khả quan, nhưng thực trạng của ngành sản xuất và XK thủy sản Việt Nam đang vô cùng khó khăn, với nhiều bất cập, khiến cho lợi nhuận sụt giảm. Xu hướng này, nếu không có các tác động thay đổi, sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng bền vững của ngành XK thủy sản trong tương lai. Có thể nhận định, tình hình sản xuất và XK thuỷ sản trong 3 tháng đầu năm nay có 8 vấn đề nổi cộm cần tập trung giải quyết.

Quý I/2012, XK thủy sản của Việt Nam đạt 1,324 tỷ USD, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Mức tăng trưởng xét về mặt giá trị là khả quan, nhưng thực trạng của ngành sản xuất và XK thủy sản Việt Nam đang vô cùng khó khăn, với nhiều bất cập, khiến cho lợi nhuận sụt giảm. Xu hướng này, nếu không có các tác động thay đổi, sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng bền vững của ngành XK thủy sản trong tương lai. Có thể nhận định, tình hình sản xuất và XK thuỷ sản trong 3 tháng đầu năm nay có 8 vấn đề nổi cộm cần tập trung giải quyết. 

1. Thiếu nguyên liệu

Mặc dù số liệu thống kê cho thấy sản lượng khai thác và nuôi trồng thuỷ sản của cả nước trong quý I năm nay vẫn tăng so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng ngành chế biến và XK thuỷ sản vẫn chưa thoát khỏi tình trạng thiếu nguyên liệu như năm trước.
Nguyên nhân:
(1) Sản lượng 2 loài thuỷ sản nuôi chính là tôm và cá tra không ổn định: dịch bệnh trên tôm làm giảm sản lượng, diện tích nuôi cá tra giảm do nông dân thiếu vốn và do giá cá bất ổn.
(2) Sản lượng các loài có giá trị kinh tế cao như cá ngừ, mực, bạch tuộc vẫn thấp, sản lượng tăng tập trung chủ yếu vào các loài cá có giá trị thấp, cá tạp…
(3) Các DN khó thu mua nguyên liệu vì nông dân không bán chịu, trong khi vòng quay vốn chậm do thị trường tiêu thụ khó khăn về tài chính. 
 Đây là yếu tố chính chi phối hoạt động XK của ngành thuỷ sản Việt Nam trong 3 tháng đầu năm. Mặc dù XK thuỷ sản vẫn tăng so với năm ngoái, nhưng không phải do sản lượng XK tăng mà do giá trung bình XK tăng. Thực tế là, chỉ có một số DN lớn duy trì được sản xuất ổn định, nhưng lợi nhuận cũng sụt giảm nghiêm trọng và có đến 30% số DN có nguy cơ phải ngừng sản xuất vì thiếu vốn và thiếu nguyên liệu để chế biến XK.
2. Thiếu vốn, ảnh hưởng đến sản xuất
Với mức lãi suất quá cao 19 – 20% trong 3 tháng đầu năm, cả nông, ngư dân và DN đều thực sự khó khăn để duy trì sản xuất và chế biến khi mà các chi phí đầu vào khác cũng đồng thời tăng mạnh (5 -10%).
Vốn vay định mức thấp, cùng với việc siết chặt tín dụng của các ngân hàng đối với ngành thuỷ sản sau vụ vỡ nợ của một DN cá tra khiến cho nhiều DN không còn vốn để duy trì sản xuất.
Tình trạng thiếu vốn xảy ra nghiêm trọng nhất đối với ngành cá tra. Theo khảo sát, có đến hơn 90% số DN mong muốn được tăng hạn mức vay vốn, mức thấp nhất là 10 tỷ đồng và cao nhất lên đến 1.400 tỷ đồng để bổ sung vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh, XK, nuôi cá tra và mua nguyên nhiên liệu, vật liệu, thức ăn cho vùng nuôi. 53,85% số DN có nhu cầu vay vốn đầu tư cho vùng nuôi tôm chân trắng, sửa chữa, trang bị máy móc, bổ sung năng lực cấp đông, đồng bộ các thiết bị phụ trợ, vốn trung hạn cho hoạt động XK, xây nhà máy thức ăn, phát triển vùng nuôi, cải tạo và nâng cấp nhà xưởng, thiết bị. Đối với ngư dân, vấn đề tiếp cận vốn cũng rất khó khăn vì họ cần vốn cho cả việc mua sắm tàu cá và thiết bị để bảo quản cá sau thu hoạch.  
3. Các chính sách bất cập, làm tăng chi phí và giảm cạnh tranh cho thuỷ sản XK
- Ngoài những khó khăn về nguồn nguyên liệu và vốn, trong thời gian qua các DN XK thuỷ sản còn phải đối phó với áp lực tăng chi phí đầu vào cho sản xuất như giá nguyên liệu, giá nhân công, trang thiết bị…Và đáng lưu ý là, các DN đang phải chịu các chi phí không nhỏ do các chính sách và thủ tục bất cập của các cơ quan quản lý. Những chi phí này đang góp phần làm đội giá thành sản xuất của các DN, làm tăng đơn giá XK và làm giảm sức cạnh tranh của thuỷ sản XK trên thị trường thế giới.
3.1. Thuế bảo vệ môi trường đối với bao bì nhựa PE để bao gói hàng XK
Để chế biến thủy sản XK, bao bì túi PE, PA các loại là một vật tư không thể thiếu, được sử dụng đa dạng và thông dụng để bao gói sản phẩm từ vài trăm gram, một kg đến cả 10kg cho một đơn vị sản phẩm. Các DN thủy sản không chỉ mua các vật liệu bao gói này từ các nhà máy sản xuất bao bì trong nước mà đồng thời phải NK từ nước ngoài theo yêu cầu của khách hàng hoặc do khách hàng nước ngoài cung cấp để bao gói hàng XK. Khoản chi phí này trong giá thành sản phẩm thủy sản XK tương đương khoảng 0,1USD/1kg sản phẩm thủy sản, chiếm tỷ trọng không nhỏ trong giá thành sản phẩm XK. Năm 2012, Luật Thuế bảo vệ Môi trường có hiệu lực áp dụng từ ngày 1/01/2012 sẽ làm chi phí này tăng gấp đôi kết hợp với các chi phí khác đang có xu hướng tăng làm cho sản phẩm thủy sản Việt Nam khó có lợi thế cạnh tranh về giá so với các nước.
3.2. Trích 2% kinh phí cho công đoàn lấy từ quỹ lương
Trong những năm qua, vấn đề đóng phí công đoàn đang là gánh nặng đối với DNvà người lao động nên đã có nhiều ý kiến phản ánh kiến nghị về việc trích nộp và sử dụng khoản trích kinh phí 2% quỹ tiền lương của các cơ quan, tổ chức, DN cho công đoàn.
Tính toán của các chuyên gia kinh tế, nếu quỹ tiền lương của DN chiếm 20% trong cơ cấu giá thành sản phẩm, khi chi phí tiền lương tăng 2% (do trích phí công đoàn) thì giá thành sản phẩm sẽ tăng khoảng 0,4%.
Đối với các DN hoạt động trong những ngành có thế mạnh XK như dệt may, nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp, da giày... có chi phí nhân công chiếm 60-70% giá thành,việc trích quỹ công đoàn 2% sẽ khiến giá thành sản phẩm tăng ít nhất là 1%.
3.3. Phí kiểm soát chất lượng thuỷ sản XK
Phí kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm gây áp lực lớn nhất đối với DN XK thủy sản trong gánh nặng các loại phí hiện nay. Chi phí kiểm nghiệm lô hàng thành phẩm trước khi XK mà DN phải trả đã tăng trung bình 1,5 - 2 lần so với trước đây. Việc lấy mẫu kiểm nghiệm lô hàng cùng các biện pháp, thủ tục kiểm soát trước khi XK đã khiến đa phần các lô hàng thủy sản phải chờ 7 - 10 ngày trước khi XK, dẫn đến DN phải chịu thêm hàng loạt mức phí lưu kho bãi.
Những sự cố về tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm XK thủy sản hiện nay chủ yếu có nguồn gốc từ khâu nuôi trồng, đánh bắt trong khi DN phải chịu chi phí kiểm nghiệm, dẫn đến không chỉ thiệt hại lớn về tiền bạc, mà còn bị thiệt hại về uy tín.
Việc kiểm soát ATTP thủy sản XK của NAFIQAD hiện không phù hợp với thông lệ quốc tế, không tạo điều kiện cho DN, vì EU và Mỹ là 2 thị trường NK thủy sản lớn nhất thế giới và cũng là 2 thị trường NK thủy sản chính của Việt Nam đều không quy định kiểm tra hoặc lấy mẫu kiểm nghiệm lô hàng trước khi XK.
Theo Luật ATTP và theo thông lệ quốc tế và ở nhiều nước trên thế giới, việc cấp Chứng thư XK không dựa trên và không phụ thuộc vào việc lấy mẫu lô hàng kiểm nghiệm mà phụ thuộc vào hiện trạng điều kiện an toàn vệ sinh của cơ sở chế biến đó có đạt không, có thuộc danh sách đủ điều kiện để XK hay không.
VASEP đã và đang kiến nghị Bộ NN và PTNT 4 điểm chính gồm:
       (1) Thay đổi cách tiếp cận kiểm soát ATTP phù hợp với Luật ATTP, thông lệ quốc tế và giảm giá thành cho DN theo hướng: kiểm soát điều kiện sản xuất là điều kiện chính để XK thủy sản và không áp dụng việc lấy mẫu kiểm nghiệm bắt buộc lô hàng làm điều kiện để cấp Chứng thư XK.
       (2) Không yêu cầu các DN phải có Chứng thư của Nhà nước khi nước NK không yêu cầu, cũng như không áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm mang tính trừng phạt và vượt quá các nội dung này của Luật ATTP.
      (3) Đề nghị xã hội hóa công tác kiểm nghiệm nhằm kịp thời phục vụ cho công tác XK.
       (4) Cần thay đổi cách kiểm soát kháng sinh và các yếu tố rủi ro ATTP theo hướng kiểm soát đầu nguồn thay vì kiểm tra lô hàng như hiện nay.
3.4. Phí kiểm dịch thú y tăng 300%
 Hiện nay mức phí kiểm dịch lô hàng theo qui định tại Thông tư số 04/2012/TT-BTC tăng quá cao, trên 300% so với qui định cũ tại Thông tư 199/2010/TT-BTC ngày 13/12/2010 của Bộ Tài chính (TT 199), gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc tăng cường NK để gia tăng XK. Theo qui định này, nếu DN nhập một lô hàng lớn, đóng trong nhiều container sẽ gặp khó khăn do phải trả phí kiểm dịch quá lớn.  Hiện nay, do khan hiếm nguyên liệu trong nước và việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu NK ngày càng khó khăn, để gia tăng XK, để giảm chi phí, có đủ nguyên liệu dự trữ để sản xuất trong năm, chủ động trong việc ký kết hợp đồng với khách hàng và đảm bảo công ăn việc làm thường xuyên cho người lao động, nhiều DN phải nhập với số lượng hàng lớn, nhất là vào những thời điểm mùa vụ tới.
Từ trước tới nay, việc kiểm dịch lô hàng thủy sản đông lạnh NK thực tế chỉ là kiểm tra cảm quan, không có hoạt động gì mới so với trước nên việc tăng phí kiểm dịch lô hàng theo qui định mới phân theo trọng lượng cont là chưa hợp lý, gây tốn kém cho DN.
4. Số DNXK thuỷ sản giảm 40%
Khó khăn về nguồn vốn và nguyên liệu cùng với sự gia tăngchi phí sản xuất khiến cho số DN tham gia XK thuỷ sản trong quý I năm nay chỉ còn khoảng 473 DN, giảm 40% so với 800 DN của cùng kỳ  năm ngoái.
Trong đó, có 327 DN không XK trong quý 1/2012 với tổng giá trị giảm 59.691.942 USD; có 68 DN mới xuất hiện trong quý 1/2012 với tổng giá trị 103.305.985 USD.  Như vậy, số DN không XK trong quý I năm nay hầu hết là những DN thương mại với doanh số rất thấp, nên chỉ làm giảm đi khoảng 5% doanh số so với  1.148.811 nghìn USD quý I năm 2011, trong khi số DN mới xuất hiện lại khiến cho doanh số tăng gần 9%.
Ngoài ra, XK năm nay tăng còn do doanh số của các DN lớn cao hơn so với năm ngoái. Top 10 DN quý I/2011 chỉ chiếm 18,5% doanh số, nhưng năm nay tăng lên 20,5%.
5. Thị trường Châu Âu bị thu hẹp do khủng hoảng tài chính
Là thị trường lớn nhất trong số 129 thị trường tiêu thụ thuỷ sản Việt Nam, nhưng trong quý I năm nay, XK sang EU đã sụt giảm 7,9% so với cùng kỳ năm ngoái do khủng hoảng nợ công ở khu vực này khiến tình hình kinh tế tài chính khó khăn, nhu cầu NK không ổn định và khả năng thanh toán chậm. Tỷ trọng của thị trường EU cũng bị giảm gần 5% từ 24,2% xuống còn19,7%.
Bản thân các DN XK cũng phải chủ động hạn chế XK vào thị trường này do khó khăn về nguồn tín dụng trong nước và nguồn nguyên liệu. Tuy nhiên, mất thị trường truyền thống này, nhiều DN không kịp xoay sở tìm kiếm bạn hàng ở các thị trường khác, sự thay đổi này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tốc độ tăng XK thuỷ sản trong 3 tháng qua.  
XK 2 mặt hàng chủ lực sang EU là tôm và cá tra đều giảm mạnh (giảm 21,8% và 12,4%). Tuy nhiên, XK cá ngừ, mực, bạch tuộc sang thị trường này vẫn tăng khả quan (cá ngừ tăng 29%, mực, bạch tuộc tăng trên 10,7%).
6. XK tôm sú liên tục giảm
Năm 2011, trong hơn 97.000ha tôm bị thiệt hại, có tới trên 82.000ha, chủ yếu là tôm sú nuôi thâm canh bị chết đã ảnh hưởng lớn tới XK mặt hàng chủ lực này của Việt Nam. Giá trị XK tôm chân trắng năm 2011 của Việt Nam đạt 704 triệu USD, chiếm 30% tổng giá trị XK tôm, tăng 70% so với năm 2010. Trong khi đó, giá trị XK tôm sú lại giảm 0,6% xuống còn 1,43 tỷ USD, chiếm 59% tổng giá trị XK tôm của Việt Nam. Quý I/2012, XK tôm sú tiếp tục giảm 4,7% còn 235 triệu USD.
Đối với Việt Nam, với diện tích nuôi trên 600.000 ha, sản lượng tôm sú mỗi năm đạt trên 300.000 tấn tạo cho Việt Nam thế mạnh hơn so với nhiều nước XK tôm khác. Tuy nhiên, dịch bệnh bùng phát trên tôm sú nuôi thâm canh đã và đang ảnh hưởng đến chất lượng, uy tín và giá trị XK mặt hàng này. 
Tình hình dịch bệnh buộc các DN chế biến tôm phải tính tới NK tôm nguyên liệu (hiện đang phải chịu thuế 10%) và phải đi qua nhiều “cửa ải” thủ tục hành chính, góp phần gia tăng chi phí và giảm sức cạnh tranh và lợi nhuận của DN. Thống kê của Hải quan Thái Lan cho thấy, 2 tháng đầu năm 2011, Việt Nam lần đầu tiên sau nhiều năm đã vượt qua Nhật Bản trở thành nước NK tôm sú lớn nhất của nước này với khối lượng đạt 132,8 tấn, trị giá trên 1,4 triệu USD.
7. Giá tôm trên thị trường giới giảm
Giá tôm trên thị trường thế giới, đặc biệt là Mỹ và Nhật Bản giảm so với năm ngoái và so với hồi đầu năm tác động không nhỏ tới giá trị XK tôm của Việt Nam trong quý I/2012, khi mức tăng trưởng chỉ đạt 9% so với 35% cùng kỳ năm ngoái. Ngoài ra, giá tôm giảm tạo thêm áp lực cho các DN chế biến và XK tôm đang phải đối mặt với chi phí đầu vào tăng mạnh như xăng, dầu, điện, lương nhân công…
Đây cũng là vấn đề đáng báo động đối với tôm Việt Nam vì khả năng cạnh tranh đang bị sụt giảm do giá thành sản xuất cao, dẫn đến giá bán cao. Hiện giá tôm Ấn Độ và Indonesia trên thị trường thế giới đang thấp hơn 15 – 25% so với giá tôm Việt Nam.
8. NK nguyên liệu tăng – Thủ tục NK khó khăn
3 tháng đầu năm 2012, Việt Nam NK thủy sản từ 72 thị trường với trị giá trên 157 triệu USD, trong đó, NK hàng nguyên liệu để sản xuất hàng XK và tái xuất chiếm khoảng 80%, còn lại là con giống và NK để tiêu thụ nội địa. Cả năm 2011, Việt Nam NK thủy sản từ 74 nước trên thế giới với tổng trị giá 541 triệu USD.
Trong bối cảnh nguồn nguyên liệu trong nước không ổn định, giá nguyên liệu cao, NK thủy sản nguyên liệu để gia công XK là một giải pháp hữu hiệu cho DN duy trì sản xuất và tạo công ăn việc làm cho công nhân, tăng doanh số XK. Tuy nhiên, khi mà khó khăn về vốn đang là vấn đề nổi cộm của DN thì chính sách ân hạn thuế NK 275 ngày đang có nguy cơ bị xóa bỏ sẽ ảnh hưởng rất nặng nề đến DN.
 

Nguồn tin: Theo VASEP
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Liên Kết Trang

Hỏi Đáp - Tư Vấn


Tên : Phòng Kinh Doanh
Điện Thoại : 0907178149
Email : tiennq@huythuan.com.vn

Tên : Phòng HCNS
Điện Thoại :
Email : miennt@huythuan.com.vn

Thăm dò ý kiến

Bạn là ai ?

Người nuôi tôm

Kỹ sư thủy sản

Sinh viên thủy sản

Thống kê Online

  • Đang truy cập: 9
  • Hôm nay: 377
  • Tháng hiện tại: 5373
  • Tổng lượt truy cập: 405119

thu mua laptop cũ hỏng

đá mỹ nghệ thanh hóa

đá mỹ nghệ đà nẵng

Hoạt động công ty

This is an example of a HTML caption with a link.